Nang giáp móng lưỡi (Thyroglossal duct cyst) là một trong những khối u bẩm sinh vùng cổ, hình thành do sự tồn tại bất thường của ống giáp – lưỡi trong quá trình phát triển phôi thai. Trên lâm sàng, nang giáp móng lưỡi thường biểu hiện dưới dạng một khối vùng cổ giữa, dọc theo đường đi của ống giáp – lưỡi, đặc biệt có mối liên quan mật thiết với thân xương móng, có thể tăng kích thước khi nhiễm trùng. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng có hình thái đơn giản và điển hình. Ung thư có thể phát sinh trong nang giáp móng lưỡi, trong đó thường gặp nhất là ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú.
Vừa qua, các bác sĩ Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế đã phẫu thuật một bệnh nhân nữ, 40 tuổi, có triệu chứng nuốt vướng. Hình ảnh siêu âm ghi nhận có khối u vùng cổ trước, cấu trúc dạng nang, bờ không đều, kích thước khoảng 57 × 20 × 21 mm, kéo dài về phía góc hàm phải, bên trong có thành phần đặc kích thước khoảng 13 × 10 mm, kèm vi vôi hóa (Hình 1). Đây là những đặc điểm khiến tổn thương không còn mang hình thái của một nang đơn thuần và cần được đánh giá kỹ hơn. Hình ảnh CT Scan vùng cổ có tiêm thuốc cản quang ghi nhận một cấu trúc dạng nang chứa dịch, kéo dài từ vùng góc hàm phải về phía đường giữa và xuống dưới xương móng, bờ đa cung, bên trong có thành phần đặc ngấm thuốc. Tổn thương có nhiều thùy, trong đó có các thành phần nằm nông ở vùng trên xương móng và lệch về đường giữa, hướng đến chẩn đoán nang ống giáp – lưỡi phức tạp (Hình 2). Kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật (Hình 3,4) xác định: Ung thư biểu mô tuyến giáp típ nhú dưới típ kinh điển độ thấp, phát sinh từ nang giáp móng xâm nhập. Bệnh nhân sẽ có kế hoạch theo dõi và điều trị tiếp theo.
Trong những trường hợp điển hình, siêu âm cổ là phương tiện chẩn đoán hình ảnh ban đầu có giá trị, giúp đánh giá đặc điểm nang, vách nang, thành phần đặc, đường ống giáp - lưỡi và đồng thời khảo sát tuyến giáp. CT Scan vùng cổ mặt không nhằm thay thế siêu âm mà có vai trò bổ sung, đặc biệt trong những trường hợp tổn thương có kích thước lớn, hình thái phức tạp hoặc không điển hình, cũng như khi cần đánh giá phạm vi tổn thương và mối liên quan với các cấu trúc giải phẫu lân cận trước phẫu thuật. Tính chất thành phần đặc, bờ không đều và vi vôi hóa trong khối nang giáp móng lưỡi có thể gặp trong nang giáp móng lưỡi ác tính, mặc dù tỷ lệ hiếm gặp, và do đó cần được đánh giá thận trọng trước điều trị. Chẩn đoán xác định vẫn dựa trên kết quả giải phẫu bệnh.
Điều trị nang giáp móng lưỡi có triệu chứng chủ yếu bằng phẫu thuật theo nguyên tắc Sistrunk, hoặc Sistrunk cải biên tùy đặc điểm tổn thương. Phẫu thuật nhằm lấy bỏ nang cùng ống giáp – lưỡi liên quan và phần thân xương móng, qua đó làm giảm nguy cơ tái phát so với cắt nang đơn thuần. Như vậy, có thể thấy rằng một khối vùng cổ được nghĩ đến là “nang” vẫn cần được đánh giá đầy đủ trước khi điều trị. Việc xác định chính xác vị trí, đặc điểm bất thường và phạm vi lan rộng của khối u nang giúp phẫu thuật viên chủ động trong lập kế hoạch và xử trí triệt để.
Khuyến cáo: Khi phát hiện khối bất thường vùng cổ, người bệnh nên đến khám tại cơ sở chuyên khoa để được thăm khám, siêu âm và thực hiện thêm các phương tiện chẩn đoán hình ảnh hoặc xét nghiệm cần thiết tùy từng trường hợp. Khám đúng – chẩn đoán đúng – điều trị đúng và triệt để là nguyên tắc quan trọng nhằm hạn chế tái phát và tránh bỏ sót những tổn thương có đặc điểm phức tạp.
Khoa Tai Mũi Họng – Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế
Phẫu thuật viên: TS.BS. Phan Hữu Ngọc Minh và cộng sự
Tài liệu tham khảo
1. Elhaj JW, Abts T, Wang Y, Ning J, Ahmed S, Debnam JM. Differentiating benign and malignant thyroglossal duct cysts with ultrasonography, CT, and PET/CT. Clin Neuroimaging. 2026;3(1).
2. Aculate NR, Jones HB, Bansal A, Ho MW. Papillary carcinoma within a thyroglossal duct cyst: significance of a central solid component on ultrasound imaging. Br J Oral Maxillofac Surg. 2014;52(3):277-278.





